
Thông Tin Chi Tiết | |
|---|---|
| Nhà Cung Cấp | Alpha Books |
| Tác giả | PGS TS Phạm Duy Nghĩa |
| Nhà xuất bản | Thế Giới |
| Năm Xuất Bản | 2025 |
| Ngôn Ngữ | Tiếng Việt |
| Trọng lượng | N/a |
| Kích Thước | 20.5 x 14 x 1.1 cm |
| Số trang | 228 trang |
Bạn đang đọc Sách Phuong Phap Nghien Cuu Luat Hoc được Tác giả PGS TS Phạm Duy Nghĩa sáng tác, và xuất bản vào năm 2025 bởi nhà xuất bản Thế Giới.
Sách Phuong Phap Nghien Cuu Luat Hoc thuộc chủ đề Sách Trong Nước, Chính Trị - Pháp Lý - Triết Học nằm trong chuyên mục Sách Trong Nước tại TuSach.vn.
Bạn có thể mua sách tại Shopee, Lazada, TiKi, Fahasa theo liên kết ở dưới để ủng hộ tác giả bạn nhé.
Ngoài ra bạn có thể Tải sách Phuong Phap Nghien Cuu Luat Hoc PDF tại đây:
Trong bối cảnh pháp luật không ngừng phát triển và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống, cuốn sách “Phương pháp nghiên cứu luật học” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đóng vai trò như một tài liệu tham khảo thiết yếu. Tác phẩm này hỗ trợ người học và những người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật không chỉ nắm vững kiến thức pháp luật mà còn phát triển khả năngtư duy và làm việc chuyên nghiệpnhư một luật sư thực thụ.
Cuốn sách hướng dẫn độc giả từ những nguyên tắc pháp lý cơ bản đến kỹ năng đọc và phân tích văn bản pháp luật, đánh giá các bản án, xác định các vấn đề pháp lý và lựa chọn giải pháp phù hợp với từng tình huống cụ thể.
Điểm nổi bật của sách là sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Điều này giúp người học xây dựng tư duy “thinking like a lawyer” – một năng lực quan trọng còn thiếu trong nhiều chương trình đào tạo luật hiện nay, vốn tập trung nhiều vào việc truyền đạt quy định pháp luật hơn là phương pháp tư duy.
Không chỉ cung cấp kiến thức, “Phương pháp nghiên cứu luật học” còn là một công cụ hữu ích, hướng dẫn người đọc cách đặt câu hỏi nghiên cứu chính xác, tự tổ chức và thực hiện nghiên cứu, viết tiểu luận, bình luận án, khóa luận hoặc luận văn với lập luận rõ ràng và mạch lạc. Sách đặc biệt nhấn mạnh một yêu cầu quan trọng trong nghề luật:nghiên cứu kỹ lưỡng là chưa đủ, cần phải viết để thuyết phục và đạt được thành công.
Tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế trong nghiên cứu luật học, nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh Việt Nam, cuốn sách vừa mang tính học thuật cao, vừa có giá trị ứng dụng thực tiễn. Đây cũng là nền tảng của bộ sách chuyên khảo gồm 5 tập của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, bao gồm:
Bố cục cuốn sách được chia thành 11 chương:
Thiết kế bìa sách mang phong cách trừu tượng – hình học, thống nhất trong toàn bộ series, thể hiện pháp luật như một hệ thống tư duy có cấu trúc. Đồng thời, thiết kế này khẳng định đây là bộ sách dành cho nghiên cứu và hành nghề chuyên sâu, không phải dòng sách nhập môn hay phổ thông.
Với nền tảng học thuật vững chắc và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của tác giả – một học giả luật học, giảng viên cao cấp và trọng tài viên quốc tế – “Phương pháp nghiên cứu luật học” là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên luật nâng cao, học viên sau đại học, luật sư, thẩm phán, trọng tài viên, cũng như những ai quan tâm đến tư duy pháp lý và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Đây là cuốn sách giúp bạn bắt đầu nghiên cứu luật học một cách nghiêm túc và đạt được những thành tựu trong sự nghiệp pháp lý.
Phạm Duy Nghĩa
Ông Phạm Duy Nghĩa có bằng Cử nhân và Tiến sĩ Luật, Đại học Tổng hợp Leipzig (1991) chuyên về pháp luật kinh doanh.
Ông là trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC, đảm nhiệm vai trò chủ tịch, trọng tài viên của nhiều Hội đồng trọng tài giải quyết các tranh chấp quốc tế về kinh doanh, thương mại, xây dựng, đầu tư, mua bán và sáp nhập.
Ngoài ra, ông còn là học giả Fulbright tại Harvard Law School (2002-2003), giảng viên cao cấp tại Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật) – Đại học Quốc Gia Hà Nội (1996-2009), Khoa Luật – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2010-2017), Trường Chính sách công&Quản lý Fulbright (2018-2025), và hiện đang công tác tại Khoa Luật Trường Đại học Tôn Đức Thắng.
“Luật học là một ngành học lâu đời, tuy nhiên, cách dạy, học và hành nghề luật đang thay đổi nhanh chóng. Trên thế giới, có hai mô hình đào tạo luật chính. Ở Mỹ, người đã tốt nghiệp đại học (bất kỳ ngành nào) có thể theo học 3-4 năm (toàn thời gian) tại một trường luật được Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ công nhận để lấy bằng juris doctor (JD), một điều kiện cần thiết để thi lấy thẻ hành nghề luật sư. Ở nhiều quốc gia khác, học vị ngành luật bao gồm cử nhân luật (LLB), thạc sĩ luật (LLM), tiến sĩ luật (PhD); (tùy quốc gia, khái niệm thạc sĩ luật (LLM) có thể khác nhau, đôi khi dành cho người chưa có bằng LLB hoặc người học từ hệ thống pháp luật nước ngoài). Mô hình JD kiểu Hoa Kỳ đã được áp dụng ở một số nước, với mức độ thành công khác nhau. Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia đã chuyển một phần từ đào tạo hàn lâm cấp bằng cử nhân luật (LLB) truyền thống sang đào tạo JD, với quy mô và tốc độ chuyển đổi hạn chế. (Lưu ý: học vị thường chưa đủ điều kiện để hành nghề luật sư ở các nước này, người học cần phải hoàn thành thêm các chương trình hành nghề). Người hành nghề trợ lý luật (nhân viên văn phòng luật, thi hành án, người giúp việc trong dịch vụ pháp lý - paralegal) thường được đào tạo nghề ở bậc trung cấp hoặc cao đẳng.”
“Học để lấy học vị cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ là đào tạo hàn lâm, khác với học để hành nghề luật. Để luật sư, thẩm phán và công tố viên có cùng nền tảng kiến thức, người ta thường dạy nghề chung cho ba nhóm này. Triết lý này (Einheitsjurist) bắt nguồn từ Đức, được du nhập sang Nhật, Hàn Quốc, và từng được Việt Nam tham khảo, ít nhất trong chủ trương, khi Học viện Tư pháp (thuộc Bộ Tư pháp) được thành lập vào năm 1998. Tuy nhiên, triết lý này không được triển khai triệt để và có vẻ đã không còn thuyết phục ở Việt Nam. Hiện nay, Học viện Tư pháp (thuộc Bộ tư pháp) chỉ còn đảm trách các chương trình đào tạo hành nghề cho luật sư, công chứng, giám định viên tư pháp, thừa phát lại. Trường ĐH Kiểm sát (thuộc Viện KSNDTC) đào tạo kiểm sát viên. Học viện Tòa án (thuộc TANDTC) đào tạo thẩm phán, thư ký tòa án. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có chức năng bồi dưỡng nghề cho luật sư. Việc bồi dưỡng với số giờ quy định hằng năm được thực hiện bởi Liên đoàn luật sư, Hiệp hội công tố hay Hiệp hội thẩm phán theo truyền thống riêng của từng nghề.”
“Mỗi ngày, con người có thể thực hiện vô số hành động tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu mà không nhận thức được điều đó. Để thống kê số lượng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) được sử dụng phổ biến trong nghề luật, những ứng dụng nào chuyên dụng cho luật sư, cần phải tìm hiểu, thống kê và phân tích. Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm và giữ chân khách hàng, đào tạo nhân viên, trong công việc hàng ngày của người hành nghề luật, mỗi quyết định thường dựa trên kết quả của nhiều nghiên cứu và tra cứu được thực hiện như một thói quen nghề nghiệp mà ít khi được nhận thức đầy đủ.”
“Khác với tìm kiếm và tra cứu thông thường, nghiên cứu khoa học được hiểu trong sách này có phạm vi hẹp hơn, chỉ bao gồm các hành động được tiến hành một cách có hệ thống, dựa trên một phương pháp cụ thể, dựa trên một hoặc nhiều khung lý thuyết vững chắc, nhằm góp phần nhận biết, giải thích một sự vật, sự việc, từ đó đóng góp thêm vào khối tri thức hiện có của nhân loại. Nghiên cứu khoa học là hành vi được tiến hành với mục đích tìm hiểu tri thức mới, được thực hiện theo phương pháp và quy trình khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được phân thành 4 loại: (i) nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure basic research), (ii) nghiên cứu cơ bản chiến lược (strategic basic research), (iii) nghiên cứu ứng dụng (applied research) và (iv) phát triển thử nghiệm (experimental development).”
“Ngoài các hoạt động nghiên cứu ứng dụng thường ngày mà người hành nghề luật thường thực hiện, với tính chất của hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể phân chia nghiên cứu luật học thành 04 loại: (i) nghiên cứu học thuyết pháp lý, (ii) nghiên cứu xây dựng pháp luật, (iii) nghiên cứu lý thuyết để hiểu các nguyên tắc pháp luật, bao gồm pháp luật nội dung cũng như tố tụng và quá trình thực thi chúng trong một lĩnh vực cụ thể, và (iv) nghiên cứu nền tảng nhằm giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội trong liên ngành với khoa học lịch sử, ngôn ngữ, kinh tế, chính trị, xã hội hay nhân chủng học.”
“Nghiên cứu luật học ngày càng liên ngành, tương tác với kinh tế học, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học, lịch sử, văn hóa. Để hiểu các thể chế và quy trình luật pháp vận hành, cần có góc nhìn phức hợp, liên thuộc giữa nhiều bên liên quan (complexity theory). Những nghiên cứu như vậy có thể được xem là nghiên cứu nền tảng (fundamental research) để giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội. Ví dụ: nhằm thúc đẩy công nghiệp công nghệ số, các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa (crypto) và chuỗi khối (blockchain), cần giải thích vì sao Việt Nam là một thị trường tài sản mã hóa năng động, đồng thời bảo vệ nhà đầu tư, chống rửa tiền, chống lừa đảo, và tạo kênh thu hút vốn quốc tế trong thời đại số. Những nghiên cứu như vậy có tính nền tảng, chuẩn bị cho các chính sách pháp luật linh hoạt về tài sản mã hóa, thúc đẩy quá trình chuyển sang nền kinh tế số ở nước ta.”
Trong bối cảnh pháp luật không ngừng phát triển và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống, cuốn sách “Phương pháp nghiên cứu luật học” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa thực sự là một tài liệu tham khảo quý giá. Đây không chỉ là một cuốn sách hướng dẫn về luật, mà còn là kim chỉ nam giúp người đọc rèn luyện tư duy phản biện và làm việc chuyên nghiệp như một luật sư thực thụ.
Cuốn sách dẫn dắt độc giả từ những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết pháp luật đến kỹ năng phân tích văn bản pháp lý, đánh giá án lệ, xác định vấn đề pháp lý và đề xuất giải pháp phù hợp với các tình huống thực tế. Tác giả không chỉ cung cấp kiến thức mà còn trang bị cho người đọc công cụ để giải quyết các bài toán pháp lý phức tạp.
Điểm nổi bật của cuốn sách là sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực hành. Thay vì chỉ tập trung vào việc truyền đạt các quy định pháp luật, tác giả chú trọng vào việc phát triển tư duy “thinking like a lawyer” – một kỹ năng còn thiếu hụt trong nhiều chương trình đào tạo luật hiện nay. Điều này giúp người học không chỉ nắm vững luật mà còn biết cách áp dụng luật vào thực tiễn.
“Phương pháp nghiên cứu luật học” không chỉ là một cuốn sách lý thuyết suông. Nó còn là một cẩm nang hướng dẫn người đọc cách xây dựng câu hỏi nghiên cứu, tự tổ chức và thực hiện nghiên cứu, viết bài tiểu luận, bình luận án, khóa luận và luận văn một cách logic và thuyết phục. Sách đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc viết lách trong nghề luật:nghiên cứu tốt là chưa đủ, cần phải viết tốt để thuyết phục và đạt được thành công.
Cuốn sách được xây dựng dựa trên các chuẩn mực quốc tế về nghiên cứu luật học, nhưng vẫn được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh pháp lý Việt Nam. Đây là một phần trong bộ sách chuyên khảo gồm 5 tập của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, bao gồm:
Bố cục sách được chia thành 11 chương, bao gồm:
Thiết kế bìa sách mang phong cách trừu tượng – hình học, tạo nên sự thống nhất cho toàn bộ series. Bìa sách gợi ý về một hệ thống tư duy có cấu trúc, đồng thời khẳng định đây là bộ sách dành cho những ai muốn nghiên cứu và hành nghề luật chuyên sâu.
Với nền tảng học thuật vững chắc và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của tác giả – một học giả luật học, giảng viên cao cấp và trọng tài viên quốc tế – “Phương pháp nghiên cứu luật học” là tài liệu không thể thiếu đối với sinh viên luật nâng cao, học viên sau đại học, luật sư, thẩm phán, trọng tài viên và những ai quan tâm đến tư duy pháp lý và quản trị rủi ro trong kinh doanh.
Đây là cuốn sách mở ra cánh cửa để bạn bắt đầu nghiên cứu luật học một cách nghiêm túc và tiến xa hơn trên con đường sự nghiệp pháp lý.
Phạm Duy Nghĩa
Ông Phạm Duy Nghĩa tốt nghiệp Cử nhân và Tiến sĩ Luật tại Đại học Tổng hợp Leipzig (1991), chuyên ngành pháp luật kinh doanh.
Ông là trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC, đồng thời là Chủ tịch và trọng tài viên trong nhiều Hội đồng trọng tài, giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến kinh doanh, thương mại, xây dựng, đầu tư, mua bán và sáp nhập.
Ông từng là học giả Fulbright tại Harvard Law School (2002-2003) và là giảng viên cao cấp tại Khoa Luật (nay là Trường Đại học Luật) – Đại học Quốc Gia Hà Nội (1996-2009), Khoa Luật – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2010-2017), Trường Chính sách công&Quản lý Fulbright (2018-2025), và hiện đang công tác tại Khoa Luật Trường Đại học Tôn Đức Thắng.
“Luật học là một ngành học truyền thống, tuy vậy việc dạy, học và hành nghề luật đang thay đổi nhanh. Trên thế giới, khái quát có hai mô hình đào tạo luật. Theo định hướng hành nghề ở Mỹ, người đã tốt nghiệp đại học (một ngành bất kỳ) sẽ được đào tạo 3-4 năm (toàn thời gian) trong một trường luật (có tên trong danh sách các trường được Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ công nhận) để được cấp bằng juris doctor (JD), một điều kiện dự thi chuẩn mực để lấy thẻ hành nghề luật sư. Ở nhiều nước khác, học vị ngành luật gồm cử nhân luật (LLB), thạc sĩ luật (LLM), tiến sĩ luật (PhD); (tùy quốc gia, khái niệm thạc sĩ luật (LLM) rất khác nhau, đôi khi dành cho người chưa có bằng LLB hoặc người học từ hệ thống pháp luật nước ngoài). Mô hình JD kiểu Hoa Kỳ đã được du nhập vào một số nước, với mức độ thành công khác nhau. Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, từ đào tạo kiểu hàn lâm để cấp bằng cử nhân luật (LLB) truyền thống, đã có thời gian chuyển một phần sang đào tạo JD, với quy mô và tốc độ chuyển đổi hạn chế. (Lưu ý: học vị thường chưa đủ là điều kiện để hành nghề luật sư ở các nước này, người học còn phải học thêm những chương trình hành nghề). Người hành nghề trợ lý luật (nhân viên văn phòng luật, thi hành án, người giúp việc trong dịch vụ pháp lý - paralegal) thường được đào tạo nghề ở bậc trung cấp, cao đẳng là đủ.”
“Học để lấy học vị cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ là đào tạo hàn lâm, khác với học để hành nghề luật. Để luật sư, thẩm phán và công tố viên có cùng một nền tảng kiến thức, người ta thường dạy nghề chung cho ba nhóm hành nghề này. Triết lý này (Einheitsjurist) bắt nguồn từ Đức, được du nhập sang Nhật, Hàn Quốc, một thời cũng đã được Việt Nam tham khảo, ít nhất trong chủ trương, khi Học viện Tư pháp (thuộc Bộ Tư pháp) được thành lập vào năm 1998. Tuy nhiên, triết lý này không được triển khai triệt để và có vẻ đã không còn thuyết phục ở Việt Nam. Hiện nay, Học viện Tư pháp (thuộc Bộ tư pháp) chỉ còn đảm trách những chương trình dạy hành nghề cho luật sư, công chứng, giám định viên tư pháp, thừa phát lại. Trường ĐH Kiểm sát (thuộc Viện KSNDTC) đào tạo kiểm sát viên. Học viện Tòa án (thuộc TANDTC) đào tạo thẩm phán, thư ký tòa án. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có chức năng bồi dưỡng nghề cho luật sư. Việc bồi dưỡng với số giờ quy định hằng năm được thực hiện bởi Liên đoàn luật sư, Hiệp hội công tố hay Hiệp hội thẩm phán theo truyền thống riêng của từng nghề.”
“Mỗi ngày trôi qua người ta có thể tiến hành vô số hành vi tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu mà không hề ý thức về nó. Để thống kê có bao nhiêu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (những con AI) được dùng phổ biến trong nghề luật, những ứng dụng nào là chuyên dụng cho nghề luật sư, việc ấy cần tìm hiểu, thống kê, phân tích. Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm, giữ chân khách hàng, tập huấn nhân viên, trong công việc thường ngày của người hành nghề luật, mỗi quyết định thường được đưa ra dựa trên kết quả của vô số nghiên cứu, tra cứu được tiến hành như một thói quen nghề nghiệp mà ít khi người ta ý thức về nó.”
“Khác với tìm kiếm, tra cứu thường ngày, nghiên cứu khoa học được hiểu trong sách này hẹp hơn, chỉ bao gồm các hành vi được tiến hành một cách có hệ thống, dựa trên một phương pháp, dựa trên một hoặc nhiều khung lý thuyết chắc chắn, nhằm góp phần nhận biết, giải thích một sự vật, sự việc, từ đó đóng góp thêm, đóng góp điểm mới vào khối tri thức sẵn có của con người. Nghiên cứu khoa học là hành vi được tiến hành có chủ đích tìm hiểu tri thức mới, được thực hiện với phương pháp và quy trình khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được phân thành 4 loại như sau: (i) nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure basic research), (ii) nghiên cứu cơ bản chiến lược (strategic basic research), (iii) nghiên cứu ứng dụng (applied research) và (iv) phát triển thử nghiệm (experimental development).”
“Ngoài hoạt động nghiên cứu ứng dụng thường ngày mà người hành nghề luật thường tiến hành, với tính chất của hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể phân chia nghiên cứu luật học thành 04 loại: (i) nghiên cứu học thuyết pháp lý, (ii) nghiên cứu xây dựng pháp luật, (iii) nghiên cứu lý thuyết để hiểu các nguyên tắc pháp luật, gồm pháp luật nội dung cũng như tố tụng và quá trình thực thi chúng trong một lĩnh vực cụ thể, và (iv) nghiên cứu nền tảng nhằm giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội trong liên ngành với khoa học lịch sử, ngôn ngữ, kinh tế, chính trị, xã hội hay nhân chủng học.”
“Nghiên cứu luật học ngày càng liên ngành, tương tác với kinh tế học, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học, lịch sử, văn hóa. Để hiểu các thể chế và quy trình luật pháp vận hành, cần tới góc nhìn phức hợp, liên thuộc giữa nhiều bên liên quan (complexity theory). Những nghiên cứu như vậy có thể được xem là nghiên cứu nền tảng (fundamental research) để giải thích pháp luật như một hiện tượng xã hội. Ví dụ: nhằm thúc đẩy công nghiệp công nghệ số, các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa (crypto) và chuỗi khối (blockchain), vừa giải thích vì sao Việt Nam là một thị trường tài sản mã hóa năng động, vừa bảo vệ nhà đầu tư, chống rửa tiền, chống lừa đảo, vừa tạo kênh thu hút vốn quốc tế trong thời đại số. Những nghiên cứu như vậy có tính nền tảng, chuẩn bị cho các chính sách pháp luật linh hoạt về tài sản mã hóa, thúc đẩy quá trình chuyển sang nền kinh tế số ở nước ta.”